Thương mại quốc tế (TMQT) nói chung và chính sách thương mại (TM) của các nước nói riêng thì vấn đề tự do hóa TM và bảo hộ TM luôn luôn đi liền với nhau. Nghịch lý này được tất cả các nước chấp nhận như một thực tế khách quan vì trình độ phát triển của các nước chênh lệch nhau, và nước nào cũng muốn tự do hoá TM, nhưng họ cũng có nhu cầu phải bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước của mình. Tuy nhiên, mục tiêu bảo hộ của các nước lại khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế mà những biện pháp bảo hộ TM trên thế giới ngày càng trở nên tinh vi hơn.
Biện pháp bảo hộ TM cổ điển nhất là thuế quan (TQ) thì đã được WTO yêu cầu phải cắt giảm, theo đó TQ của các sản phẩm liên quan đều được cam kết ở mức rất thấp, chủ yếu là bằng 0%. Chính sức ép phải giảm thuế đó đã khiến các nước đề ra các biện pháp bảo hộ TM tinh vi hiện đại khác không phải là thuế, đó là các biện pháp phi thuế quan (PTQ) và chúng ta hay gọi đó là các rào cản thương mại PTQ, nó là nguyên nhân khiến cho các hoạt động thương mại quốc tế bị bóp méo.
Do đó nghiên cứu: “Thuế quan hóa các rào cản thương mại phi thuế quan – lý thuyết và các vấn đề triển khai thực hiện” từ đó đề xuất một số biện pháp, những khuyến nghị để hạn chế tiêu cực của các biện pháp bảo hộ đó là hết sức cần thiết.
Hiểu một cách chung nhất, Rào cản thương mại (RCTM) là bất kì biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế.
Theo WTO: Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 2 loại là: các biện pháp thuế quan (TARIFF) và các biện pháp phi thuế quan (NON TARIFF).
Tuy được sử dụng trong TMQT, nhưng thuật ngữ “rào cản phi thuế quan” không được WTO định nghĩa một cách chính thống và cũng không được đưa vào các văn bản luật pháp của WTO. Vì trên thực tế nhiều khi khó mà phân biệt được một biện pháp phi thuế quan có phải là một RCTM hay không.
Như vậy biện pháp PTQ được hiểu là tất cả các biện pháp không phải là thuế quan, các công cụ mang tính chất hành chính, các công cụ mang tính chất đòn bẩy kinh tế và sự tham gia của chính phủ hay các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK). Hiện nay RCTMPTQ đang sử dụng rộng rãi là hạn ngạch (quota: đang được coi là có tác dụng mạnh và bóp méo thương mại hơn thuế quan), cấp phép, các quy định về kỹ thuật, chống bán phá giá, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ, quy tắc xuất xứ...
Hiện nay trong WTO, hiệp định SPS (Sanitary an Phytosanitary) đưa ra các quy tắc về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và sức khỏe động thực vật. Hiệp định TBT (Technical Barries to Trade) điều chỉnh việc áp dụng các quy định về tiêu chuẩn sản phẩm, dán nhãn, chứng nhận và công nhận hợp chuẩn. Các hiệp định này cho phép các thành viên một mặt duy trì các biện pháp kỹ thuật vì các lý do chính đáng, mặt khác hạn chế khả năng lạm dụng các RCTMPTQ.
Còn thuế quan là khoản thu do nhà nước đặt ra đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu khi hàng hóa đó làm thủ tục thông quan tại cửa khẩu hải quan hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng XNK.
Tác động của thuế quan đối với hàng nhập khẩu đơn giản chỉ là việc làm tăng mức giá của hàng nhập khẩu và nhờ đó làm giảm mức cạnh tranh của hàng hóa đó đối với các sản phẩm trong nước. Tương tự thuế quan xuất khẩu (rất ít khi được áp dụng) nhưng mục tiêu của nó chủ yếu là làm giảm lượng nhu cầu thế giới đối với mặt hàng xuất khẩu và tăng thu ngân sách. Nếu như thuế quan nhập khẩu có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước thì thuế quan xuất khẩu không có mục tiêu đó. Vì lý do thuế quan xuất khẩu ít được sử dụng nên trừ khi được nêu rõ ràng, thông thường thuế quan là thuế quan đối với hàng nhập khẩu. Điểm chung của thuế quan và phi thuế quan là đều nhằm mục tiêu bảo hộ các hàng hóa sản xuất trong nước, nhưng thuế quan lại ít bóp méo thương mại thế giới, dễ quản lý và thuế quan được WTO khuyến khích sử dụng.
Các biện pháp phi thuế quan có thể được phép áp dụng nếu nó tuân theo những tiêu chí của WTO và không gây cản trở hay bóp méo thương mại. Đó được gọi là những biện pháp phi thuế quan phổ thông. Nhưng về nguyên tắc, WTO yêu cầu phải chuẩn mực hoá lại các biện pháp PTQ phổ thông theo các qui định chung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế, tiến tới giảm thiểu hoặc loại bỏ các rào cản PTQ gây cản trở đối với TM.
Nếu như vấn đề thuế quan không tạo ra nhiều bất đồng và khó khăn trong việc xem xét và đánh giá của các thành viên trong WTO thì vấn đề RCPTQ luôn gây ra những tranh cãi và bất đồng giữa các quốc gia trên thế giới. Vì nó bóp méo thương mại quốc tế, tổn thương sự tăng trưởng kinh tế và giảm thu nhập toàn cầu; mặt khác chúng rất đa dạng, phong phú nhưng lại tác động tiêu cực đến người tiêu dùng.
Với mục tiêu đảm bảo công bằng giữa các thành viên trong thương mại quốc tế và ủng hộ cho tự do hóa thương mại nên WTO đã có nhiều nỗ lực để cố gắng hạn chế bớt sự phát triển của các RCPTQ, nhưng thực tế các RCPTQ vẫn tồn tại và phát triển ngày càng một tinh vi hơn. Tuy nhiên, WTO cũng đã có nhiều thành công trong việc đạt được sự thừa nhận chung về một số loại RCPTQ tiêu biểu cũng như tác động tiêu cực của chúng và buộc các thành viên WTO phải cam kết giảm thiểu chúng.
WTO chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước và yêu cầu phải dỡ bỏ hàng rào bảo vệ phi thuế quan. Vì vậy TQ hóa các RCTMPTQ được các thành viên của WTO ủng hộ mạnh mẽ.
Nhưng thực tế hiện nay chúng ta sẽ bất ngờ khi một mặt các nước giàu trên thế giới kêu gọi thúc đẩy toàn cầu hóa, đòi các nước khác mở cửa thị trường và TQH các biện pháp PTQ nhưng mặt khác lại thiết lập cuộc chơi tự do hóa thương mại (TDHTM) với những “luật chơi” do mình đặt ra nhưng thực chất là để bảo vệ những ngành kinh tế không đủ sức cạnh tranh, đặc biệt là hàng nông sản. Mặc khác họ đã thành công trong việc buộc nước khác gỡ bỏ những rào cản để hàng công nghiệp và dịch vụ của mình tràn vào. Các nước phương Tây luôn lớn tiếng rao giảng về TDHTM trong khi chính mình lại có những hành động đi ngược lại với tự do thương mại. Bằng những lý do này lý do khác, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dựng lên các RCTM (đặc biệt là các RCTMPTQ) để bảo vệ lơi ích cho quốc gia, tổ chức mình thông qua các khoản trợ cấp gián tiếp, hay dựng các điều luật “riêng” (đánh thuế cao, thuế chống phá giá, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm…).
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã sử dụng nhiều biện pháp quản lý thương mại trực tiếp can thiệp đến hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, nhiều khi đã tạo ra những cản trở nhất định đối với TMQT.
Nay là thành viên mới của WTO với nền kinh tế ngày càng phát triển, Việt Nam phải nổ lực nghiên cứu áp dụng các biện pháp bảo hộ mới trong khuôn khổ cho phép của WTO. Do khả năng cạnh tranh của hầu hết các doanh nghiệp nước ta còn hạn chế, vì thế chúng ta phải khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các quy định của WTO để tìm ra những biện pháp phi thuế quan phổ thông phù hợp bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sức ép giảm thuế quan và thuế quan hóa. Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ... hay các khoản trợ cấp gián tiếp như hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng, tìm kiếm thị trường XNK… đó là những công cụ rất hữu hiệu mà chúng ta phải áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa. Ngoài ra, chúng ta phải nghiên cứu để hướng dẫn các doanh nghiệp có biện pháp tránh hoặc hạn chế bớt rủi ro khi vướng phải các rào cản này. Hơn thế nữa, việc tìm hiểu kỹ về các RCPTQ giúp chúng ta thêm khả năng thắng kiện, hoặc giảm thiểu thiệt hại trong những vụ tranh chấp thương mại liên quan.
Có lẽ lời giải bài toán thuế quan hóa các rào cản thương mại phi thuế quan trong TMQT vẫn chưa có lời kết.

| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|






